Wednesday, 27/05/2020 - 06:47|
NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ CÁC CẤP, TIẾN TỚI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THƯ XIII CỦA ĐẢNG CÙNG CHUNG TAY ĐẨY LÙI DỊCH BỆNH COVID-19 CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NÊU CAO TINH THẦN GƯƠNG MẪU, CHỦ ĐỘNG HỌC TẬP, TÌM HIỂU, TUÂN THỦ, CHẤP HÀNH HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT! CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI SỐNG MÃI TRONG SỰ NGHIỆM CỦA CHÚNG TA! ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH MUÔN NĂM!
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đọc lại và suy ngẫm về bài thơ Nguyên Tiêu của Bác trong những ngày phòng chống dịch bệnh Covid-19

Tôi viết bài này trong năm Canh Tý (2020) sau hơn 70 năm Hồ Chủ Tịch viết bài thơ Nguyên Tiêu (Rằm Tháng Giêng) - một bài thơ cũng ra đời năm Mậu Tý (1948). Bài này được viết trong khi cả nước đang tiến hành một cuộc “chiến tranh nhân dân”, tiến hành cuộc kháng chiến “toàn dân và toàn diện” để cùng toàn thế giới đẩy lùi dịch Covid-19. Và vì thế, trong tôi bỗng nảy sinh những so sánh thú vị về không khí chống dịch những ngày này với hoàn cảnh ra đời của bài thơ Nguyên Tiêu năm xưa.

Nếu trong mùa xuân năm Canh Tý 2020, công cuộc đẩy lùi dịch bệnh của cả nước đang rất quyết liệt thì trong mùa xuân năm Mậu Tý 1948 (thời điểm ra đời bài thơ Nguyên Tiêu), công cuộc khai tử chế độ thuộc địa (do người Pháp áp đặt ở Việt Nam) vẫn còn rất gian nan. Bài thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán Nguyên Tiêu là dấu tích huyền thoại về “lửa thử vàng” từ những gian nan ấy:

Kim dạ Nguyên Tiêu nguyệt chính viên,

Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên;

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền

                                                                               (Ngữ văn 7, Tập 1, tr 140, NXB Giáo dục 2017)

Nhà thơ Xuân Thủy đã dịch bài thơ ra thể lục bát:

Rằm xuân lồng lộng trăng soi,

Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân;

Giữa dòng bàn bạc việc quân,

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

                   (Sđd)

Ảnh minh họa

 

Hiếm có bài thơ chữ Hán nào có bản dịch mượt mà và sáng tạo như diệu phẩm này. Bản dịch đã diễn tả rất tốt hồn vía của cả cảnh lẫn tình trong nguyên tác. Tuy nhiên, tôi đọc bản dịch thấy xen lẫn cảm giác vừa thú vị vừa tiếc nuối khi dịch giả dùng các từ/ cụm từ “lồng lộng”, “lẫn màu trời”, “thêm” và nhất là hai từ “bát ngát” và “ngân”. Đúng là cảnh xuân lồng lộng, bao la, bát ngát và ánh trăng như ngân lại đầy những dư âm, dư ảnh trên con thuyền. Song, khi dùng các từ / cụm từ này, bản dịch có xu hướng “diễn giải” làm “rõ ý” nguyên tác, mà diễn giải vốn không phải là điều khiến người làm thơ tứ tuyệt ưa thích. Vì diễn giải thường khiến bài thơ cụ thể hóa về nghĩa, cũng tức là làm “nghèo hóa” sức khơi gợi đồng sáng tạo ở người đọc. Trong nguyên tác, ngôn từ giản dị hơn nhiều nhưng sức ngân vang cũng rất vô hạn.

 

Bài thơ Nguyên Tiêu trước hết là bức họa ghi lại một khoảnh khắc tuyệt diệu của đêm rằm trên sông nước khu căn cứ địa.

 

Trong câu thơ đầu, bốn chữ “kim dạ Nguyên Tiêu” (đêm nay Nguyên Tiêu) ghi rõ thời khắc nhân vật trữ tình ngắm trăng. Từ trên thuyền, thi nhân nhận thấy hình ảnh của trăng đang chính vào độ tròn trặn nhất (nguyệt chính viên). Nguyên tác thiên về tả hình sắc còn bản dịch thiên về tả ánh sắc. Tác giả không diễn giải cái ý “lồng lộng trăng soi” (ánh sắc) như dịch giả nhưng người đọc có thể hình dung được sự cao trong, sáng láng của nền trời nhờ hình ảnh tròn đầy của vầng trăng. Phải là một nền trời cao trong lắm thì người ngắm trăng mới nhận thấy trăng tròn vành vạnh như thế.

 

Nếu câu đầu tả nền trời xuân thì câu thứ hai tả mặt sông xuân. Có một sự di chuyển cái nhìn từ cao xuống thấp, cứ như ánh trăng lan đến đâu là nét xuân hiện rõ đến đấy. Bắt đầu là một điểm sáng từ vầng trăng, ánh trăng tỏa xuống mặt sông là sông biến thành “xuân giang”, hòa vào nước là nước thành “xuân thủy”, tỏa theo chiều rộng, nhuộm tràn không gian thì bầu trời thành “xuân thiên”. Nước trời như liền một dải mênh mang vô tận. Phải đến đây, bài thơ mới mở ra cái ý “lồng lồng trăng soi”. Điệp từ xuân không chỉ gợi được tính chất mùa của dòng sông, sắc nước, sắc trời. Nó còn gợi một sức sống tràn ngập. Đáng chú ý là chữ “tiếp” trong câu: Xuân giang, xuân thủy tiếp xuân thiên (Sông xuân, nước xuân tiếp nối trời xuân). Cũng giống như chữ “lồng” trong câu thơ “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”(Cảnh khuya) hay chữ “ủng” trong câu thơ “Vân ủng trùng sơn sơn ủng vân” (Mây bao bọc dãy núi trùng điêp, núi bao bọc mây - Mới ra tù tập leo núi),... chữ “tiếp” thể hiện sự nối kết, giữa các hình ảnh trong bức tranh thiên nhiên - một nét đặc trưng trong thơ trữ tình Hồ Chủ Tịch. Sự nối kết ấy khiến không gian tuy bao la nhưng không trống vắng, lạnh lẽo. Cả vầng trăng, dòng sông và bầu trời như đan kết, gắn bó trong một mối giao cảm ấm áp, ngời sáng đến kì lạ. Đây cũng là một trong những đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên trong thơ Hồ Chi Minh.

 

Câu thứ ba thực hiện đúng chức năng của câu chuyển, là cái bản lề khép mở mối quan hệ giữa cảnh và người: Yên ba thâm xứ đàm quân sự (Nơi sâu thẳm mịt mù khói sóng, bàn việc quân sự). Trong câu thơ này, nửa đầu vẫn nối tiếp mạch tả cảnh với “yên ba thâm xứ” (nơi sâu thẳm mịt mù khói sóng) và nửa bắt đầu tả người - là những người đến đây để “đàm quân sự” (luận bàn việc quân). Tiếc rằng, bản dịch không truyền tải được cái không khí mông lung sương khói tiết trời xuân. Bốn chữ “Yên ba thâm xứ” mở ra một thế giới bồng bềnh hư ảo; như phiêu diêu, thoát tục, khiến cho con thuyền trên sông kia rất gần với con thuyền thơ của người ẩn sĩ “du giang ngoạn nguyệt” (chơi sông, thưởng trăng) ngày xưa, tìm đến thiên thiên thanh tĩnh, lánh xa chốn đời tục. Nhưng ba chữ cuối “đàm quân sự” lại mang đến một luồng sinh khí khác. Những con người xuất hiện ở nơi sâu thẳm mông lung, bồng bềnh khói sóng kia không phải những ẩn sĩ lánh đời mà là những chiến sĩ đang luận bàn quân cơ quốc kế để thay đổi cuộc đời, số phận cả một dân tộc. Lược đi những yếu tố thi vị thì bài thơ vẫn mang dấu ấn của một thời điểm đáng nhớ trong lịch sử - Khi chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông vừa thắng lợi nhưng con đường phía trước của Cách mạng còn cam go. Sự kiện “đàm quân sự” được diễn ra tại nơi khói sóng mịt mờ là để đảm bảo tính bí mật, đảm bảo an toàn, tránh tai mắt của kẻ thù. Hiểu như thế thì phải chăng cái không khí thơ mộng, yên tĩnh, vắng vẻ của đêm Nguyên Tiêu cũng là khoảng lặng tạm thời giữa những cơn bão sắp tới của cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại? Và từ nơi đây sẽ tạo ra tâm bão để quét sạch quân thù?

 

Câu thơ cuối cùng hội tụ lại tất cả vẻ đẹp của cảnh và người, ghi lại khoảnh khắc con thuyền từ giã khói sóng mịt mù mang theo đầy ắp ánh trăng trở về. Có thể dành rất nhiều lời hay ý đẹp để bình về câu thơ này vì nó mang nét đẹp gần gũi với “thuyền chở yên hà” hay thuyền chở trăng quen thuộc trong thơ xưa; vì nó như một thông điệp khẳng định chất thi sĩ trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Song ở đây, tôi muốn nói đến hàm nghĩa sâu xa hơn. Đây là con thuyền chở những lãnh tụ tối cao của lực lượng Cách mạng tìm nơi bí mật để họp bàn việc quân. Nên câu kết cũng diễn tả kết quả của cuộc “đàm quân sự” này. Tác giả không nêu rõ kết quả cụ thể (vì như thế không còn là thơ nữa) mà dùng hình ảnh con thuyền đầy ắp ánh trăng, cũng là đầy ắp thi hứng để thể hiện sự hân hoan khi việc quân đã được bàn định thống nhất, con đường Cách mạng phía trước đã được vạch ra trong ý chí con người. Hiểu như thế thì chất xuân, nét xuân trong bài thơ vừa mang nghĩa thực nhưng cũng có thể hiểu là biểu tượng của hi vọng vào tương lai.

 

Không rõ việc dùng từ của thi nhân là ngẫu nhiên hay chủ ý khi câu thơ khởi đầu có một chữ “viên” (Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên) và câu thơ kết thúc một chữ “mãn” (Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền) nhưng rõ ràng, nếu cần thâu tóm hồn cốt bài thơ vào một từ thì đó là từ VIÊN MÃN (nghĩa là tròn đầy). Bài thơ đã diễn tả được sự viên mãn ánh trăng của con thuyền chở trăng, sự viên mãn của đất trời ở độ giữa xuân và nhất là sự viên mãn tràn đầy thi hứng của con người sau khi đã tạm bàn xong việc quân. Điều đáng cảm phục nhất ở vị lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh lúc này là tâm thế. Trong những thời khắc cam go của đất nước, Người vẫn bình thản, lạc quan. Hơn thế nữa, như trong nhiều bài thơ khác, vẫn đắm mình trong những xúc cảm về vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo vật. Không để những khó khăn của hoàn cảnh làm rối trí đã đành, mọi sự đe dọa của cuộc chiến không làm nhiễu động tâm hồn thanh cao, yêu cái đẹp của Người. Đó chỉ có thể là tâm thế bàn thạch của một bậc đại trí, đại dũng và phải là tâm thế ấy mới tạo nên bức tường thành vững chắc về tinh thần cho lực lượng kháng chiến để làm nên những chiến thắng sau này. Cũng giống như khi lí giải nguyên nhân chiến thắng Bạch Đằng, Trương Hán Siêu - danh sĩ thời Trần trong bài Phú Sông Bạch Đằng cho rằng sở dĩ quân Nguyên đại bại ở nước ta không hẳn do đất hiểm mà là tâm thế vững bàn thạch của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn - vị chỉ huy tối cao trong công cuộc Bình Nguyên:  “Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng / Bởi Đại Vương coi thế giặc nhàn”.

 

Trở lại với đại dịch Covid-19 với những diễn biến phức tạp như hiện nay, chúng ta học được gì từ bài thơ này của Bác? Tôi nghĩ đó là học cách nghĩ, cách cảm tích cực về cuộc sống từ Người. Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 lần này, chỉ cần mỗi người chao đảo một chút sẽ gây mầm mống bất an cho xã hội. Vì thế hãy học thi sĩ - chiến sĩ Hồ Chí Minh ở sự lạc quan, bình thản, bình tĩnh đối mặt với khó khăn. Chỉ khi bình thản, bình tĩnh đối mặt với khó khăn, chúng ta mới có một lí trí sáng suốt, mới đánh thức được sức mạnh của trí tuệ để ứng phó với mọi biến cố. Trong mọi hoàn cảnh, Hồ Chủ Tịch luôn tìm ra một ý nghĩa tích cực nào đó để tạo nghị lực cho mình và cho người khác. Ngay trong những thời khắc cam go nhất của cuộc kháng chiến, Bác luôn bình thản và lạc quan và sáng suốt chèo lái con con thuyền Cách mạng. Tôi nghĩ đến hình ảnh con thuyền trong bài thơ Nguyên Tiêu và muốn gán cho nó một biểu tượng - dù đó không phải ý của tác giả: đó là con thuyền chèo lái đưa đất nước vượt qua sự khốc liệt của cuộc chiến và con thuyền ấy vẫn là biểu tượng của hi vọng giúp chúng ta nỗ lực hành động chiến thắng dịch bệnh trong năm Canh Tý 2020.

 

Thanh Tâm - HT Trường THCS Lý Tự Trọng


Tác giả: Thanh Tâm - HT Trường THCS Lý Tự Trọng
Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết